Điều nên biết khi mong con mình ăn nhiều?

Mẹ chưa biết về kích thước dạ dày trẻ, nhu cầu ăn uống thực sự của con và tác hại của việc nhồi nhét.

Câu chuyện về việc ép con ăn không còn là xa lạ trong tâm lý các chị, các mẹ khi nuôi con. Chúng ta có thể thấy những đứa trẻ bị nhồi ăn sữa, ép đút cháo ở bất cứ nơi đâu, từ sân khu tập thể, ngoài nhà hàng, trong các bữa cơm gia đình hay thậm chí cả ở trong các lớp mầm non, tư thục. Nhiều chị em nghĩ rằng ép con ăn là…tốt cho trẻ. Tuy nhiên, có những sự thật bất ngờ không phải ai cũng biết

Kích thước kinh ngạc của dạ dày trẻ

Hiểu biết sai về kích thước dạ dày của bé dẫn đến tình trạng các bà mẹ nhồi nhét thức ăn làm dạ dày bé quá tải, hậu quả trước mắt là bé dễ ói ọc khi ăn và dần trở nên thù ghét thức ăn. Hậu quả lâu dài là việc thiếu dinh dưỡng, chậm phát triển cả thể chất và trí tuệ ở trẻ nhỏ.

ép con, ăn dặm, biếng ăn
Mô phỏng kích thước dạ dày trẻ sơ sinh (ảnh minh họa)

Mẹ có biết kích thước thật sự dạ dày của bé?

Trẻ nhỏ khi mới sinh ra kích thước dạ dày không to hơn một quả cherry, nó chưa giãn nở tốt và thậm chí chỉ chứa được 5-10ml sữa/lần vào ngày đầu tiên. Số sữa này tương đương đúng bằng lượng sữa non quý giá mới tiết ra của mẹ. Vì vậy, hãy cứ cho con ăn ít một, không cần bù thêm sữa công thức và cũng đừng lo trẻ đói. Ba ngàu sau sinh, kích thước dạ dày trẻ to bằng một quả bóng bàn, có thể chứa được 20-30ml/lần ăn và 10 ngày sau mới bằng một quả trứng gà, có thể chứa được 60-80ml/lần ăn.

Trẻ nhỏ từ 6-11 tháng tuổi có dung tích dạ dày nhỏ hơn 5 lần so với người trưởng thành. Nếu một người trưởng thành có thể ăn vào được một lượng thức ăn có thể tích 1300ml thì dạ dày em bé chỉ có thể chứa được một lượng thức ăn khoảng 200 -250ml (tương đương 1 chén cơm).

Điều thú vị nhất ở đây là dạ dày của bé nhỏ hơn dạ dày người lớn 5 lần nhưng vi chất dinh dưỡng cần bổ sung lại cao hơn người lớn 3-5 lần tính trên mỗi cân nặng của bé. Chính vì vậy, một em bé sơ sinh ngày đầu tiên sẽ ăn 8-12 lần trong vòng 24 giờ, có nghĩa là bé nên được cho ăn khoảng 1-3 giờ/cữ và một em bé đang độ tuổi ăn dặm nên ăn ít nhưng đủ chất và chia làm 2-3 bữa nhỏ trong ngày.

Ép con ăn có thể hại trẻ lồng ruột

Lồng ruột là từ chuyên nghành chỉ hiện tượng ruột non chui vào lòng ruột già. Trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi, nhất là những bé bú mẹ và bụ bẫm thì thường có khả năng cao xảy ra lồng ruột. Dù có tới 90% trẻ bị lồng ruột không rõ nguyên nhân nhưng các chuyên gia cũng rút ra được kết luận rằng lồng ruột rất hay xảy ra ở trẻ bú mẹ, thường từ 4-9 tháng. Đặc biệt, càng những bé bụ bẫm, ham ăn, bị mẹ nhồi nhét ăn dẫn đến nhu động ruột phải hoạt động mạnh thì càng dễ bị lồng ruột.

Dậy thì sớm vì bị ép ăn

Trẻ bị ép ăn nhiều sẽ dẫn đến tình trạng thừa dinh dưỡng, làm tăng lượng hormon trong cơ thể khiến các trẻ em bị dậy thì sớm. Thậm chí làm hạn chế sự phát triển chiều cao của trẻ. Hơn nữa, do chưa trưởng thành về tâm lý, sự phát triển sớm của cơ thể sẽ khiến trẻ có những hiểu biết sai lầm. Nhiều bé gái đã hốt hoảng, sợ hãi, xấu hổ, lo lắng, dẫn đến buồn rầu và bỏ học khi cơ thể có sự thay đổi. Một số trẻ bị rơi vào trầm cảm vì không biết chia sẻ cùng ai. Các bé trai có khuynh hướng hung hăng, dễ nổi cáu và hay gây gổ với những người xung quanh. Trẻ có thể bị mất ngủ, đứng ngồi không yên hoặc có những hành vi bất thường, nhiều trẻ còn bị rối loạn suy nghĩ và có cái nhìn lệch lạc về tình dục…

ép con, ăn dặm, biếng ăn
Ép con ăn hôm nay có thể để lại hậu quả xấu sau này (ảnh minh họa)

Cha mẹ ép con ăn là vì mình chứ không phải vì con

Nhiều người sẽ phản đối kịch liệt khi nghe thấy câu nói này. Tuy nhiên cần khẳng định, đây là sự thật. Nếu quan tâm tới con trẻ và thực sự muốn tốt cho con thì không ai ép trẻ ăn.

Nếu chúng ta hỏi các bà các mẹ rằng họ ép con ăn để làm gì, họ sẽ nói rằng vì muốn con khỏe mạnh. Vậy nhưng có một lý do ít ai nói ra hoặc thậm chí ít ai nghĩ mình đang như thế: đó là do chúng ta sợ con mình không có được chiều cao, cân nặng bàng vai phải lứa với các em bé xung quanh. Chúng ta nhìn những đứa trẻ to hơn, cao hơn, nặng cân hơn con mình và cho rằng đó là khỏe còn con mình …chưa khỏe. Chúng ta lo sợ cả sự đánh giá của người ngoài đối với vóc dáng của con cái mình. Chính vì vậy, chúng ta ép con ăn để an tâm mình trước khi nghĩ đến trẻ.

Mặt khác, những bố mẹ ép con ăn có xu hướng quyết định giờ ăn của con thuận tiện cho bản thân họ (ví dụ, khi bản thân họ đang đói) mà thường không bận tâm kiểm tra xem liệu con có đang thực sự đói không. Chính vì vậy, nếu tôn trọng trẻ, không ai lại ép con ăn.

(Theo Khám phá)

giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Advertisements

Viêm phổi ở trẻ nhỏ

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi ở trẻ em

Vi khuẩn

Vi khuẩn hay gặp nhất trong viêm phổi mắc phải ở cộng đồng ở trẻ em là S. pneumonia chiếm tới khoảng 30-50% trường hợp. H. influenzae type b là nguyên nhân vi khuẩn đứng hàng thứ 2 chiếm khoảng 10-30% và tiếp theo là S.aureus và K.pneumonia.

Các vi khuẩn khác cũng là nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em trong đó phải kể đến M. pneumonia thường gây viêm phổi không điển hình ở trẻ trên 5 tuổi. Liên cầu B và Chlamydia spp có thể gây viêm phổi ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra các vi khuẩn như K. pneumonia và một số vi khuẩn Gr(-) khác cũng có thể gây viêm phổi ở trẻ nhỏ và đặc biệt là trẻ sơ sinh. Trong những năm gần đây do có dịch HIV nên có thể gặp viêm phổi do Pneumocystis Jiroveci ở trẻ nhiễm HIV.

Virus

Các nghiên cứu về viêm phổi do virus cho thấy có khoảng 15-40% là do virus hợp bào đường hô hấp (RSV) tiếp theo là virus cúm A, B, á cúm, metapneumovirus ở người và adenovirus. Nhiễm virus đường hô hấp ban đầu cũng có thể làm tăng nguy cơ viêm phổi do vi khuẩn thứ phát hoặc đôi khi cũng gặp những trường hợp viêm phổi phối hợp giữa virus và vi khuẩn trên trẻ nhỏ ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ này vào khoảng 20-30% trong các đợt viêm phổi.

Hiếm gặp nhưng các virus như varicella và sởi đôi khi cũng gây viêm phổi ở trẻ em

Ký sinh trùng, nấm

Mặc dù cũng hiếm gặp nhưng Histoplasmosis toxoplasmosis và candida cũng có thể gây viêm phổi ở trẻ em trong một số hoàn cảnh đặc biệt.

Biểu hiện lâm sàng bệnh viêm phổi ở trẻ

Thở nhanh là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán viêm phổi cao nhất. Đối với trẻ dưới 5 tuổi, tiêu chuẩn thở nhanh theo phân loại của WHO là:

Nhịp thở ≥ 60 lần/phút đối với trẻ < 2 tháng tuổi và

Nhịp thở ≥ 50lần/phút đối với trẻ 2 tháng – 12 tháng tuổi và

Nhịp thở ≥ 40lần/phút đối với trẻ 1-5 tuổi .

Đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên hoặc khi ngủ và phải đếm trong 1 phút.

Ran ẩm nhỏ hạt cũng là dấu hiệu thường được dùng trong chẩn đoán viêm phổi.

Rút lõm lồng ngực là dấu hiệu của viêm phổi nặng. Để phát hiện dấu hiệu này cần nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực. Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị phân loại vì lồng ngực của trẻ nhỏ còn mềm, nên khi thở bình thường cũng có thể hơi bị rút lõm. Vì vậy, ở những trẻ này rút lõm lồng ngực mạnh (lõm sâu và dễ nhìn thấy) mới có giá trị để chẩn đoán.

Sốt cao cũng là một triệu chứng thường gặp.

Khò khè có thể có khoảng 30% ở trẻ lớn bị viêm phổi do mycoplasma.Tuy nhiên, các trẻ này cũng dễ nhầm với hen nếu không chụp Xquang phổi. Các triệu chứng đau ngực hoặc đau bụng (thường liên quan đến tổn thương màng phổi phía cơ hoành) tiết dịch màng phổi và tiếng thổi ống rất ít gặp ở trẻ em.

Các triệu chứng phập phồng cánh mũi, thở rên, bú kém, kích thích, và các bất thường khi khám phổi thay đổi phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân và độ nặng của bệnh.

Mặc dù có một số triệu chứng như bỏ bú, thở rên, tím trung tâm có thể là những gợi ý của tình trạng thiếu oxygen nhưng vì chúng không có độ nhạy và đặc hiệu cao, do vậy khi có điều kiện cần phải đo độ bão hoà oxygen qua da cho bệnh nhi có biểu hiện suy hô hấp hoặc có vẻ ốm nặng.

Chẩn đoán bệnh viêm phổi trẻ em

Dựa vào các nghiên cứu lâm sàng và Xquang phổi, Tổ chức Y Tế thế giới đã phân loại viêm phổi thành các thể rất nặng, nặng và không nặng dựa vào các triệu chứng lâm sàng để qua đó các thầy thuốc lâm sàng quyết định các biện pháp điều trị hỗ trợ như oxygen, bù dịch và kháng sinh đặc hiệu.

Viêm phổi rất nặng

Trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính sau:

– Tím tái; co giật, lơ mơ hoặc hôn mê.

– Không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ.

-Suy hô hấp nặng (ví dụ như: đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ).

Ngoài ra có thể có thêm một số triệu chứng khác sau:

– Thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực.

– Nghe phổi có thể thấy:

Giảm rì rào phế nang, tiếng thổi ống, ran ẩm nhỏ hạt.

Tiếng cọ màng phổi v.v…

– Nếu có điều kiện thì nên chụp Xquang.

Viêm phổi nặng

Trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính sau:

– Co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi.

– Thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng) và không có các dấu hiệu chính của viêm phổi rất nặng.

Ngoài ra, cũng có thể có thêm một số các triệu chứng khác đã mô tả ở phần viêm phổi rất nặng.

Chụp Xquang thường ít khi cho những thông tin để làm thay đổi quyết định điều trị, do đó chỉ các trường hợp đặc biệt mới cần chụp Xquang mà thôi.

Viêm phổi không nặng

Trẻ có ho hoặc khó thở và khó thở nhanh:

– Trẻ dưới 2 tháng: Nhịp thở ~ 60 lần/phút.

– Trẻ từ 2-12 tháng: Nhịp thở ~ 50 lần/phút.

– Trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi: Nhịp thở ~ 40 lần/phút.

Và không có một trong các triệu chứng chính của viêm phổi nặng hoặc rất nặng.

Ngoài ra khi nghe phổi có thể thấy ran ẩm nhỏ hạt.

Không viêm phổi (ho cảm)

Trẻ có các triệu chứng sau:

– Ho, chảy mũi, thở bằng miệng.

– Sốt.

Và không có các dấu hiệu sau:

– Thở nhanh, co rút lồng ngực, thở rít khi nằm yên.

– Các triệu chứng nguy hiểm chung khác.

Một số trẻ có thể có khò khè. Các trẻ này thường do virus. Không cần dùng kháng sinh cho trẻ, điều trị triệu chứng bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần.

Hướng dẫn điều trị bệnh viêm phổi trẻ em

Viêm phổi ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 2 tháng

Các trẻ này cần phải điều trị tại bệnh viện do bệnh có thể diễn biến nặng lên rất nhanh, khó tiên lượng và cần phải theo dõi chặt chẽ. Nguyên nhân chủ yếu do các loại vi khuẩn Gram (-), tụ cầu, liên cầu nhóm B… còn phế cầu và H. influenzae thì ít gặp hơn.

Hãy dùng: Benzyl penicillin hoặc ampicillin kết hợp với gentamicin. Một đợt dùng từ 5-10 ngày. Trong các trường hợp viêm phổi rất nặng thì dùng cefotaxime.

Viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

Nguyên nhân chủ yếu do các loại vi khuẩn như phế cầu, H. influenzae và M. catarrhalis còn các vi khuẩn khác như tụ cầu hoặc vi khuẩn Gram (-) thì ít gặp hơn.

Viêm phổi: (không nặng, chỉ có ho và thở nhanh). Điều trị tại nhà bằng amoxycillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ từ 5-7 ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì điều trị như viêm phổi nặng.

Viêm phổi nặng (có khó thở, co rút lồng ngực). Điều trị tại bệnh viện. Hãy dùng: Benzyl penicillin hoặc ampicillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ từ 5-10 ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì điều trị như viêm phổi rất nặng.

Viêm phổi rất nặng (có khó thở, co rút lồng ngực, tím tái, li bì…). Điều trị tại bệnh viện. Hãy dùng:

Benzyl penicillin hoặc ampicillin phối hợp với gentamicin hoặc

Không đỡ dùng cefuroxime.

Nếu nghi ngờ viêm phổi do tụ cầu. Hãy dùng:

Oxacillin kết hợp với gentamicin hoặc nếu không có oxacillin thì:

Thay bằng cephalothin gentamicin.

Gần đây một số nơi có tỷ lệ tụ cầu kháng methicillin cao thì có thể chuyển sang dùng vancomycin.

Viêm phổi ở trẻ trên 5 tuổi

Nguyên nhân thường do phế cầu hoặc H. influenzae… Hãy dùng từ 7-10 ngày:

Benzyl Penicillin 50mg/kg/lần (TM). Ngày dùng 4-6 lần hoặc

Cephalothin 50-100mg/kg/ngày(TM hoặc TB) chia 3-4 lần hoặc

Cefuroxime 50-75 mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 3 lần hoặc

Ceftriaxone 50-100mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 1-2 lần.

Nếu ở nơi nào tỷ lệ H. influenzae sinh beta-lactamase cao thì có thể thay bằng amoxy/clavulanic (Augmentin) hoặc ampicillin/Sulbactam (Unacin) TB hoặc TM.

Viêm phổi không điển hình

Nguyên nhân thường do Mycoplasma, Chlamydia, Legionella hoặc Ricketsia, hãy dùng:

Erythromycine 40-50mg/kg/ngày, uống chia 4 lần trong 10 ngày hoặc

Azithromycine 10mg/kg trong ngày đầu sau đó 5mg/kg trong 4 ngày tiếp theo. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể dùng tới 7-10 ngày.

Phòng bệnh viêm phổi trẻ em

Các biện pháp phòng bệnh chung nhằm làm giảm nguy cơ mắc bệnh đã đem lại những hiệu quả giảm tỷ lệ mắc viêm phổi rõ rệt đó là:

Cải thiện điều kiện nhà ở.

Tăng cường dinh dưỡng.

Giảm mật độ người trong gia đình chật chội, đông đúc.

Giảm các loại khói.

Giảm tỷ lệ mang các vi khuẩn ở tỵ hầu ở trẻ dưới 5 tuổi.

Sử dụng các loại vaccin là biện pháp phòng bệnh đặc hiệu các vaccin được dùng hiện nay là:

H.influenzae type b (Hib).

Ho gà (Bordatella pertusis).

Phế cầu (S.pneumonia).

Cúm.

Cẩm nang truyền thông các bệnh thường gặp – BV Bạch Mai

 
giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Giúp bé phát triển 5 giác quan từ giai đoạn sơ sinh

1. Xúc giác

Da được coi là cơ quan xúc giác, trong đó da ở miệng và tay của bé là bộ phận nhạy cảm nhất. Theo các nhà khoa học, bé sơ sinh có thể cảm nhận được nhiệt độ nóng và lạnh hay cảm giác đau. Vì vậy, bạn không nên quấn bé trong chăn ủ hoặc mang găng tay cả ngày mà hãy để tay, chân bé được tự do chuyển động càng nhiều càng tốt để cảm nhận được thế giới bên ngoài.

Giúp bé phát triển 5 giác quan từ giai đoạn sơ sinh 1

Continue reading

Muốn con giỏi, mẹ phải trao 5 QUYỀN này!

Hôm nọ, cô bạn tôi có hỏi tôi “Chị dạy con thế nào mà cháu nói tiếng anh giỏi thế. Con nhà em nhát lắm, gặp người lạ bảo nói vài câu chẳng bao giờ chịu nói”. Tôi trả lời “Thế chị đã trao cho con niềm tin chưa?”.

Thật vậy, nhiều chị em hỏi tôi làm thế nào để dạy dỗ được một đứa trẻ ngoan, biết vâng lời mẹ nhưng vẫn rất tự tin và tự chủ. Thực ra, bí quyết để có những đứa con ngoan không khó, quan trọng là người mẹ có sẵn sàng dạy con hay không. Đối với tôi, muốn dạy được con, mẹ cần để bé cảm nhận được những “quyền” này.

1. Trao cho con: Niềm tin

Trẻ con đặc biệt thích nhận được sự tin tưởng của người lớn, đặc biệt là cha mẹ. Chình vì vậy, đừng ngại ngần nói cho con biết rằng mẹ tin vào con. Nếu trẻ muốn tìm hiểu để học nấu nướng, mẹ nên nói với con những câu đáng tin cậy như “Sao! Con thích học nấu ăn à? Nếu con học nghiêm túc thì mẹ sẽ dạy con và chắc chắn là con làm được”. Câu nói như vậy khiến cho một đứa bé trai 5 tuổi chưa vào bếp bao giờ cũng cảm thấy tự tin và biết rằng thành công, mong muốn của con được mẹ tôn trọng.

Trở lại với câu hỏi về chuyện dám nói tiếng anh trước mặt người lạ như của cô bạn tôi có hỏi. Lý do đứa trẻ không dám nói, đó là vì mẹ chưa trao cho nó niềm tin. Chúng ta thường cố ý nói mỉa nhằm tạo ra sự khích lệ cho con, ví dụ như “Con nhìn em bé hơn con mà đã nói tiếng anh như gió rồi kia kìa”. Tuy nhiên, cách nói này gây tổn hại sự tự tin của trẻ và chưa bao giờ là một cách khuyến khích con có hiệu quả.

2. Trao cho con: Tôn trọng

Từ 2 tuổi, trẻ đã bắt đầu biết tự nhận thức, càng lớn, khả năng nhận thức về bản thân sẽ càng mạnh mẽ hơn. Mỗi đứa trẻ đều có tâm trí riêng của mình, hiểu được khả năng và nhược điểm của bản thân. Khi trẻ đưa ra những quan điểm khác nhau, người mẹ cần phải trao cho con sự tôn trọng. Nếu con nói với mẹ, “mẹ ơi canh nóng quá”. Người mẹ cần phải kiểm tra. Không được gạt đi và bảo “Nóng đâu mà nóng”. Tương tự, nếu con nói với tôi “Mẹ ơi con no rồi”, tôi sẽ ngừng và sẵn sàng chấp nhận, tôn trọng dạ dày của trẻ.

3. Trao cho con: Bình đẳng

Continue reading