8 điều nên tránh khi chăm sóc trẻ sơ sinh

8 điều nên tránh khi chăm sóc trẻ sơ sinh
Khi chăm sóc trẻ sơ sinh, các bậc cha mẹ hãy chú ý tránh 8 điều dưới đây để con có được sức khỏe tốt nhất.
1. Sử dụng tã quấn quá kín

Sử dụng tã quấn quá kín sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của da. Vì được bao bọc quá kín nên những chất thải tiết ra từ cơ thể trẻ cùng với mồ hôi sẽ không thoát được ra ngoài. Trong những chất thải đó có chứa rất nhiều CO2, đây là những chất không có lợi cho sự phát triển da của trẻ.

Nếu người lớn không chú ý, da của trẻ sẽ bị nhiễm trùng, nhiễm khuẩn. Trẻ sẽ cảm thấy vô cùng khó chịu, nguy hiểm hơn là gây ảnh hưởng đến tính mạng. Continue reading

Advertisements

Dấu hiệu trẻ bệnh:Những điều mẹ nên quan tâm

Để đảm bảo sức khỏe và an toàn cho bé, mẹ đừng nên bỏ qua dấu hiệu bệnh sau.

Trong quá trình chăm sóc các bé yêu, có rất nhiều dấu hiệu, triệu chứng biểu hiện bất thường có thể xảy ra ở bé, nếu mẹ lơ là không để ý và không có biện pháp xử lý kịp thời, đúng cách có thể dẫn đến các tình huống nguy hiểm mà chúng ta không thể lường trước được.

Trước các triệu chứng và dấu hiệu dưới đây của trẻ, các mẹ chớ nên xem thường. Trẻ có khỏe mạnh hay không là do sự chăm sóc yêu thương từ cha mẹ, chính vì thế trẻ sơ sinh cần có một sự chăm sóc đặc biệt để trẻ có thể lớn khỏe mạnh.

1. Có dấu hiệu lạ ở môi
Continue reading

Nguyên nhân gây viêm tai giữa cấp ở trẻ

Viêm tai giữa cấp ở trẻ có rất nhiều nguyên nhân. Hiểu biết một cách cơ bản và khoa học các nguyên nhân sẽ giúp cha mẹ có cách phòng chống và phát hiện kịp thời những dấu hiệu của bệnh.
Viêm tai giữa có thể gây nên những cơn đau và làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thể chất của trẻ giai đoạn mắc bệnh. Vì vậy nếu được phát hiện sớm, việc điều trị sẽ nhanh và bé sẽ bớt phải trải qua đau đớn hơn. Để phát hiện và phòng tránh bệnh này một cách khoa học, các bậc phụ huynh cần thiết phải biết nguyên nhân gây bệnh.
Nhiều phụ huynh cho biết mình chăm con rất kỹ lưỡng, thường vệ sinh tai rất sạch sẽ cho con, môi trường sống không quá ầm ĩ. Thậm chí có người còn cẩn thận không để trẻ đi bơi, nếu lỗ tai trẻ có tiếp xúc với nước thì sẽ lập tức sấy khô ngay, nên khi con bị viêm tai giữa là điều vô cùng khó hiểu.

Viêm tai giữa

Cấu tạo của tai giữa gồm màng tai và một hốc xương gọi là hòm tai. Màng tai, còn gọi là màng nhĩ, là mảng hình bầu dục, lõm ở giữa. Nó ngăn cách hoàn toàn tai ngoài và tai giữa, và bịt lên hòm tai. Màng nhĩ tuy có lớp xơ ở giữa khá chắc, nhưng lại rất dễ bị thủng bởi viêm nhiễm, chấn thương cơ học (vật cứng chọc vào), chấn thương áp lực (lặn sâu), chấn thương âm… Continue reading

Viêm phổi ở trẻ nhỏ

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi ở trẻ em

Vi khuẩn

Vi khuẩn hay gặp nhất trong viêm phổi mắc phải ở cộng đồng ở trẻ em là S. pneumonia chiếm tới khoảng 30-50% trường hợp. H. influenzae type b là nguyên nhân vi khuẩn đứng hàng thứ 2 chiếm khoảng 10-30% và tiếp theo là S.aureus và K.pneumonia.

Các vi khuẩn khác cũng là nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em trong đó phải kể đến M. pneumonia thường gây viêm phổi không điển hình ở trẻ trên 5 tuổi. Liên cầu B và Chlamydia spp có thể gây viêm phổi ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra các vi khuẩn như K. pneumonia và một số vi khuẩn Gr(-) khác cũng có thể gây viêm phổi ở trẻ nhỏ và đặc biệt là trẻ sơ sinh. Trong những năm gần đây do có dịch HIV nên có thể gặp viêm phổi do Pneumocystis Jiroveci ở trẻ nhiễm HIV.

Virus

Các nghiên cứu về viêm phổi do virus cho thấy có khoảng 15-40% là do virus hợp bào đường hô hấp (RSV) tiếp theo là virus cúm A, B, á cúm, metapneumovirus ở người và adenovirus. Nhiễm virus đường hô hấp ban đầu cũng có thể làm tăng nguy cơ viêm phổi do vi khuẩn thứ phát hoặc đôi khi cũng gặp những trường hợp viêm phổi phối hợp giữa virus và vi khuẩn trên trẻ nhỏ ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ này vào khoảng 20-30% trong các đợt viêm phổi.

Hiếm gặp nhưng các virus như varicella và sởi đôi khi cũng gây viêm phổi ở trẻ em

Ký sinh trùng, nấm

Mặc dù cũng hiếm gặp nhưng Histoplasmosis toxoplasmosis và candida cũng có thể gây viêm phổi ở trẻ em trong một số hoàn cảnh đặc biệt.

Biểu hiện lâm sàng bệnh viêm phổi ở trẻ

Thở nhanh là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán viêm phổi cao nhất. Đối với trẻ dưới 5 tuổi, tiêu chuẩn thở nhanh theo phân loại của WHO là:

Nhịp thở ≥ 60 lần/phút đối với trẻ < 2 tháng tuổi và

Nhịp thở ≥ 50lần/phút đối với trẻ 2 tháng – 12 tháng tuổi và

Nhịp thở ≥ 40lần/phút đối với trẻ 1-5 tuổi .

Đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên hoặc khi ngủ và phải đếm trong 1 phút.

Ran ẩm nhỏ hạt cũng là dấu hiệu thường được dùng trong chẩn đoán viêm phổi.

Rút lõm lồng ngực là dấu hiệu của viêm phổi nặng. Để phát hiện dấu hiệu này cần nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực. Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị phân loại vì lồng ngực của trẻ nhỏ còn mềm, nên khi thở bình thường cũng có thể hơi bị rút lõm. Vì vậy, ở những trẻ này rút lõm lồng ngực mạnh (lõm sâu và dễ nhìn thấy) mới có giá trị để chẩn đoán.

Sốt cao cũng là một triệu chứng thường gặp.

Khò khè có thể có khoảng 30% ở trẻ lớn bị viêm phổi do mycoplasma.Tuy nhiên, các trẻ này cũng dễ nhầm với hen nếu không chụp Xquang phổi. Các triệu chứng đau ngực hoặc đau bụng (thường liên quan đến tổn thương màng phổi phía cơ hoành) tiết dịch màng phổi và tiếng thổi ống rất ít gặp ở trẻ em.

Các triệu chứng phập phồng cánh mũi, thở rên, bú kém, kích thích, và các bất thường khi khám phổi thay đổi phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân và độ nặng của bệnh.

Mặc dù có một số triệu chứng như bỏ bú, thở rên, tím trung tâm có thể là những gợi ý của tình trạng thiếu oxygen nhưng vì chúng không có độ nhạy và đặc hiệu cao, do vậy khi có điều kiện cần phải đo độ bão hoà oxygen qua da cho bệnh nhi có biểu hiện suy hô hấp hoặc có vẻ ốm nặng.

Chẩn đoán bệnh viêm phổi trẻ em

Dựa vào các nghiên cứu lâm sàng và Xquang phổi, Tổ chức Y Tế thế giới đã phân loại viêm phổi thành các thể rất nặng, nặng và không nặng dựa vào các triệu chứng lâm sàng để qua đó các thầy thuốc lâm sàng quyết định các biện pháp điều trị hỗ trợ như oxygen, bù dịch và kháng sinh đặc hiệu.

Viêm phổi rất nặng

Trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính sau:

– Tím tái; co giật, lơ mơ hoặc hôn mê.

– Không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ.

-Suy hô hấp nặng (ví dụ như: đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ).

Ngoài ra có thể có thêm một số triệu chứng khác sau:

– Thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực.

– Nghe phổi có thể thấy:

Giảm rì rào phế nang, tiếng thổi ống, ran ẩm nhỏ hạt.

Tiếng cọ màng phổi v.v…

– Nếu có điều kiện thì nên chụp Xquang.

Viêm phổi nặng

Trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính sau:

– Co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi.

– Thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng) và không có các dấu hiệu chính của viêm phổi rất nặng.

Ngoài ra, cũng có thể có thêm một số các triệu chứng khác đã mô tả ở phần viêm phổi rất nặng.

Chụp Xquang thường ít khi cho những thông tin để làm thay đổi quyết định điều trị, do đó chỉ các trường hợp đặc biệt mới cần chụp Xquang mà thôi.

Viêm phổi không nặng

Trẻ có ho hoặc khó thở và khó thở nhanh:

– Trẻ dưới 2 tháng: Nhịp thở ~ 60 lần/phút.

– Trẻ từ 2-12 tháng: Nhịp thở ~ 50 lần/phút.

– Trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi: Nhịp thở ~ 40 lần/phút.

Và không có một trong các triệu chứng chính của viêm phổi nặng hoặc rất nặng.

Ngoài ra khi nghe phổi có thể thấy ran ẩm nhỏ hạt.

Không viêm phổi (ho cảm)

Trẻ có các triệu chứng sau:

– Ho, chảy mũi, thở bằng miệng.

– Sốt.

Và không có các dấu hiệu sau:

– Thở nhanh, co rút lồng ngực, thở rít khi nằm yên.

– Các triệu chứng nguy hiểm chung khác.

Một số trẻ có thể có khò khè. Các trẻ này thường do virus. Không cần dùng kháng sinh cho trẻ, điều trị triệu chứng bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần.

Hướng dẫn điều trị bệnh viêm phổi trẻ em

Viêm phổi ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 2 tháng

Các trẻ này cần phải điều trị tại bệnh viện do bệnh có thể diễn biến nặng lên rất nhanh, khó tiên lượng và cần phải theo dõi chặt chẽ. Nguyên nhân chủ yếu do các loại vi khuẩn Gram (-), tụ cầu, liên cầu nhóm B… còn phế cầu và H. influenzae thì ít gặp hơn.

Hãy dùng: Benzyl penicillin hoặc ampicillin kết hợp với gentamicin. Một đợt dùng từ 5-10 ngày. Trong các trường hợp viêm phổi rất nặng thì dùng cefotaxime.

Viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

Nguyên nhân chủ yếu do các loại vi khuẩn như phế cầu, H. influenzae và M. catarrhalis còn các vi khuẩn khác như tụ cầu hoặc vi khuẩn Gram (-) thì ít gặp hơn.

Viêm phổi: (không nặng, chỉ có ho và thở nhanh). Điều trị tại nhà bằng amoxycillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ từ 5-7 ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì điều trị như viêm phổi nặng.

Viêm phổi nặng (có khó thở, co rút lồng ngực). Điều trị tại bệnh viện. Hãy dùng: Benzyl penicillin hoặc ampicillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ từ 5-10 ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì điều trị như viêm phổi rất nặng.

Viêm phổi rất nặng (có khó thở, co rút lồng ngực, tím tái, li bì…). Điều trị tại bệnh viện. Hãy dùng:

Benzyl penicillin hoặc ampicillin phối hợp với gentamicin hoặc

Không đỡ dùng cefuroxime.

Nếu nghi ngờ viêm phổi do tụ cầu. Hãy dùng:

Oxacillin kết hợp với gentamicin hoặc nếu không có oxacillin thì:

Thay bằng cephalothin gentamicin.

Gần đây một số nơi có tỷ lệ tụ cầu kháng methicillin cao thì có thể chuyển sang dùng vancomycin.

Viêm phổi ở trẻ trên 5 tuổi

Nguyên nhân thường do phế cầu hoặc H. influenzae… Hãy dùng từ 7-10 ngày:

Benzyl Penicillin 50mg/kg/lần (TM). Ngày dùng 4-6 lần hoặc

Cephalothin 50-100mg/kg/ngày(TM hoặc TB) chia 3-4 lần hoặc

Cefuroxime 50-75 mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 3 lần hoặc

Ceftriaxone 50-100mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 1-2 lần.

Nếu ở nơi nào tỷ lệ H. influenzae sinh beta-lactamase cao thì có thể thay bằng amoxy/clavulanic (Augmentin) hoặc ampicillin/Sulbactam (Unacin) TB hoặc TM.

Viêm phổi không điển hình

Nguyên nhân thường do Mycoplasma, Chlamydia, Legionella hoặc Ricketsia, hãy dùng:

Erythromycine 40-50mg/kg/ngày, uống chia 4 lần trong 10 ngày hoặc

Azithromycine 10mg/kg trong ngày đầu sau đó 5mg/kg trong 4 ngày tiếp theo. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể dùng tới 7-10 ngày.

Phòng bệnh viêm phổi trẻ em

Các biện pháp phòng bệnh chung nhằm làm giảm nguy cơ mắc bệnh đã đem lại những hiệu quả giảm tỷ lệ mắc viêm phổi rõ rệt đó là:

Cải thiện điều kiện nhà ở.

Tăng cường dinh dưỡng.

Giảm mật độ người trong gia đình chật chội, đông đúc.

Giảm các loại khói.

Giảm tỷ lệ mang các vi khuẩn ở tỵ hầu ở trẻ dưới 5 tuổi.

Sử dụng các loại vaccin là biện pháp phòng bệnh đặc hiệu các vaccin được dùng hiện nay là:

H.influenzae type b (Hib).

Ho gà (Bordatella pertusis).

Phế cầu (S.pneumonia).

Cúm.

Cẩm nang truyền thông các bệnh thường gặp – BV Bạch Mai

 
giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Thứ tự mọc răng sữa của trẻ



Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 1
2 chiếc răng cửa dưới thường xuất hiện đầu tiên khi bé được 6-10 tháng tuổi.Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 2
Xuất hiện tiếp theo là 2 chiếc răng cửa trên thường mọc vào tháng thứ 8-12. Khi 2 chiếc răng thỏ này mọc, trông bé nhà bạn rất dễ thương.Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 3
2 chiếc răng cửa phía trên tiếp theo mọc khi bé được 9- 13 tháng tuổi. Vậy là hàm trên của bé đã có 4 chiếc răng cửa.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 4
Thứ tự tiếp theo là 2 chiếc răng cửa dưới. Hai răng này mọc khi bé được 10-16 tháng tuổi. Vào thời điểm này, bé nhà bạn đã có thể khoe khá nhiều răng khi cười.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 5
Hai chiếc răng hàm trên đầu tiên xuất hiện khi bé 13-19 tháng tuổi. Hai chiếc răng này mọc ở vị trí lùi về phía trong, cách một vị trí so với 4 chiếc răng cửa trên đầu tiên.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 6
Cũng như 2 răng hàm trên, 2 răng hàm dưới mọc cách một vị trí so với 4 chiếc răng cửa dưới đầu tiên. Chúng xuất hiện khi bé ở vào khoảng 14-18 tháng tuổi.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 7
Hai chiếc răng nanh hàm trên được mọc vào khoảng 16-22 tháng tuổi sẽ lấp đầy vị trí bị bỏ trống. Có một thực tế thú vị là ngoài cái tên răng nanh, ở một số nơi, họ gọi hai chiếc răng này là răng chó.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 8
Hai răng nanh hàm dưới xuất hiện khi bé ở khoảng 17-23 tháng tuổi. Bây giờ, bé nhà bạn đã có một nụ cười toàn răng. Nó thực sự rất đẹp vì răng sữa bao giờ cũng trắng hơn răng vĩnh viễn.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 9
Hai răng hàm phía dưới tiếp theo được mọc khi bé được khoảng 23-31 tháng tuổi. Ở giai đoạn này, nhiều bé thường không cảm thấy khó chịu khi mọc răng vì bé đang bận rộn khám phá nhiều thứ xung quanh.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 10
Hai chiếc răng hàm trên cuối cùng sẽ mọc khi nhóc con nhà bạn ở khoảng 25-33 tháng tuổi. Vậy là cho đến khi 3 tuổi, bé sẽ có một nụ cười vô cùng rực rỡ với đầy đủ 20 chiếc răng sữa.

giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Vệ sinh mũi cho trẻ sơ sinh, làm sao đúng?

1/ Vệ sinh mũi cho bé bằng gì?

Sổ mũi là nguyên nhân khiến bé ngạt mũi, ho, nôn trớ. Nếu chăm sóc không tốt mũi, bé có thể bị biến chứng như viêm amidal, viêm tai giữa, viêm phổi. Vì vậy, vệ sinh mũi cho bé rất quan trọng. Nước muối sinh lý là dung dịch để vệ sinh mũi, có tác dụng làm ẩm niêm mạc mũi trong trường hợp không khí khô và ô nhiễm, làm long đờm, loãng đờm khi mũi bị viêm. Sử dụng nước muối để vệ sinh mũi rất an toàn và không có tác dụng phụ.

2/ Vệ sinh mũi cho bé khi nào?

Nên vệ sinh mũi khi bé có các biểu hiện hoặc mắc các bệnh về viêm đường hô hấp như: chảy nước mũi, ngạt mũi, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, ho, viêm tai giữa…, khi bé đi ngoài đường về, nhất là đi bằng xe gắn máy.

Nên vệ sinh mũi cho bé trước khi cho ăn 30 phút để tránh nôn trớ. Nếu bé bị nôn trớ thì sau đó nên vệ sinh ngay, vì thức ăn kèm dịch vị dạ dày sẽ bám trên mũi, là nguyên nhân gây viêm dai dẳng ở các bé.

Continue reading

Massage cho trẻ sơ sinh: Tác dụng và cách thực hiện

Nếu một em bé mới sinh bị đau bụng hay chướng bụng, massage sẽ làm giảm sự khó chịu, đầy hơi. Hoặc nếu bé khó ngủ dẫn đến mệt mỏi, massage sẽ giúp bé ngủ ngon hơn.

Massage cho trẻ sơ sinh được áp dụng từ thời xa xưa và đến ngày nay khi khoa học kĩ thuật phát triển vượt bậc, biện pháp này vẫn được các mẹ tin tưởng sử dụng. Với bàn tay nhẹ nhàng của mẹ và tiếng nói trìu mến quen thuộc, các bé sẽ cảm nhận được sự an toàn, ấm áp và làm quen dần với thế giới mới tràn ngập ánh sáng, âm thanh và những điều mới mẻ còn vô cùng lạ lẫm với các bé. Ngoài ra, massage còn là một cách để tạo nên mối liên hệ bằng cảm ứng giữa trẻ sơ sinh và mẹ.

Nếu một em bé mới sinh bị đau bụng hay chướng bụng, massage cho bé sẽ làm giảm sự khó chịu, đầy hơi. Hoặc nếu bé hay bồn chồn, khó ngủ dẫn đến mệt mỏi, mẹ massage cho bé sẽ giúp bé ngủ ngon hơn. Theo một số nghiên cứu, trẻ sinh non nếu được thường xuyên massage sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng và phát triển cao hơn, làm tăng khả năng miễn dịch. Khi đó các bé cũng hiếu động, hoạt bát hơn và nhanh chóng theo kịp các bé khác.
Các bác sĩ nhi khoa khuyên các bậc cha mẹ không nên sử dụng các loại tinh dầu thường sử dụng cho người lớn, thay vào đó nên sử dụng dầu oliu không mùi trên da của bé để giữ được làn da bé luôn mềm mại và dưỡng ẩm. Dầu oliu không gây ra bất kì loại phản ứng dị ứng hay mẩn đỏ đối với làn da nhạy cảm của bé.

Continue reading