NHỮNG LÝ DO KHIẾN MẸ TÂY NUÔI CON NHỎ MÀ VẪN NHÀN TÊNH!

Cô con gái 2 tuổi của tôi khá độc lập, tính tình hòa nhã cởi mở, gặp ai cũng tươi cười chào hỏi thân thiện. Cháu ăn uống rất tốt, hầu như không từ chối món gì, tới giờ ăn là tự kéo bàn ăn ra rồi tự xúc ăn rất ngon lành. 8 giờ tối, cháu chào bố mẹ rồi đi vào phòng ngủ riêng. Tôi chỉ đi theo vào phòng đắp chăn cho con, hôn nhẹ lên trán con chúc ngủ ngon, rồi tắt đèn đi ra… 7 giờ sáng hôm sau, cháu tỉnh dậy và đánh thức bố mẹ bằng một bài hát.
Và đây là những gì tôi đã áp dụng cho con gái mình.
1. Ngủ riêng
Việc đầu tiên là phải cho con ngủ riêng ngay từ ngày đầu về nhà, nếu không có phòng riêng cho con thì cũng phải có giường (cũi) riêng cho con. Nhiều người vẫn còn quan niệm rằng “cho con ngủ chung mới tình cảm”. Nhưng tôi không tin rằng những kẻ sát nhân giết chính cha mẹ đẻ của mình đều là vì… cha mẹ cho ngủ riêng!
Ngủ riêng cũng là tạo một không gian riêng êm ái cho con, con không bị thức giấc bởi tiếng ho của bố, hay cái trở mình của mẹ. Đồng thời bố mẹ cũng được ngủ ngon khi không có con cựa mình.
Trẻ con là vậy, cho dù nó không ngủ được nó sẽ phải học cách tự ru ngủ. Cha mẹ chỉ cần tạo điều kiện cho con: khi con đi ngủ, phòng ngủ phải tối đen, không có chút ánh sáng nào, cũng không có 1 âm thanh của TV hay radio. Có thể nửa đêm con sẽ dậy nhưng khi thấy xung quanh tối om và yên ắng nó sẽ tự quay lại giấc ngủ.
Nếu ngủ với cha mẹ thì thường cha mẹ sẽ cố dỗ con ngủ, trẻ sẽ nhõng nhẽo và đòi được ôm ấp. Cứ thế con sẽ hình thành thói quen xấu là nửa đêm dậy chỉ để được nhõng nhẽo và vô tình cha mẹ tạo điều kiện cho con có thói quen xấu đó.
Tôi đã cảm thấy hết sức chán nản khi nghe 1 bậc cha mẹ nào đó than phiền rằng con mình khó ngủ, hay thức dậy lúc nửa đêm. Giải pháp rất đơn giản là “cho trẻ ngủ riêng ngay từ ngày đầu về nhà”.

Continue reading

Giúp mẹ vệ sinh đồ chơi của con sạch sẽ, an toàn

Những mẹo sau sẽ giúp mẹ vệ sinh đồ chơi cho con cực kỳ nhanh mà lại an toàn cho sức khoẻ của bé.

Bảo quản đồ chơi

- Luôn cất đồ chơi trong hộp nhựa có nắp đậy, có thể phân chia thành từng loại đồ chơi riêng biệt.- Lọ nhựa là nơi chứa đồ chơi tốt vì bạn có thể thấy ngay những gì bên trong lọ.- Đừng vội ném bỏ những hộp đựng giày vì chúng có thể là ngôi nhà cho búp bê của bé.- Treo một túi lưới nhựa trong nhà tắm để cất đồ chơi tắm.- Không để đồ chơi của con rải rác xung quanh nhà. Bạn nên cố gắng cùng bé thu dọn đồ chơi vào rổ sau mỗi lần chơi.- Có thể mang theo túi đồ chơi đặc biệt trong ôtô.


Làm sạch và chuẩn bị đồ chơi

- Có thể bỏ vào máy giặt đồ chơi nhồi bông nếu đồ chơi đó được khuyến cáo giặt máy.- Hoặc dùng xà phòng và bàn chải mềm để làm sạch đồ chơi.- Đồ chơi bằng nhựa có thể đưa vào máy rửa bát khi chúng bẩn.- Đồ chơi nhựa nhiều hình dạng ngóc ngách, bạn nên ngâm trong nước xà phòng ấm và dùng bàn chải đánh răng cũ chải sạch.- Có thể làm sạch và khử mùi hôi của đồ chơi bằng nước xả vải.- Có thể làm sạch khô đồ chơi bằng cách lắc chúng trong một chiếc túi có chứa một lượng lớn bột nở (baking – soda). Continue reading

Ông già Noel có thật không?

Vào năm 1897, một bé gái ở New York tên là Virginia O’Hanlon đã viết thư cho tờ New York Sun để hỏi về Ông Già Noel. Cô bé viết rằng: “Năm nay cháu 8 tuổi, và cháu rất tin vào Ông già Noel. Nhưng nhiều bạn của cháu lại bảo rằng Ông Già Noel không có thật. Bố cháu thì bảo nên hỏi tờ báo Sun. Xin hãy cho cháu biết: Ông già Noel có thật không ạ ?”

Hãy nhớ rằng những điều chân thật nhất trong thế giới chúng ta là những điều mà trẻ em và người lớn đều không thể thấy được.”

Vào năm 1897, một bé gái ở New York tên là Virginia O’Hanlon đã viết thư cho tờ New York Sun để hỏi về Ông Già Noel. Cô bé viết rằng: “Năm nay cháu 8 tuổi, và cháu rất tin vào Ông già Noel. Nhưng nhiều bạn của cháu lại bảo rằng Ông Già Noel không có thực. Bố cháu thì bảo nên hỏi tờ báo Sun. Xin hãy cho cháu biết: Ông già Noel có thực không ạ ?”

Câu hỏi của cô bé quan trọng đến nỗi ông tổng biên tập Francis P. Church phải đích thân trả lời. Ông viết thư trả lời bé Virginia như sau:

“Virginia thân mến,

Các bạn cháu nói không đúng đâu. Trong chúng ta, luôn có những người hoài nghi mọi thứ. Họ chỉ tin vào những gì tận mắt nhìn thấy và hiểu được, nhưng điều đó không có nghĩa những gì họ không thấy, không hiểu được, là không có thật. Continue reading

Điều nên biết khi mong con mình ăn nhiều?

Mẹ chưa biết về kích thước dạ dày trẻ, nhu cầu ăn uống thực sự của con và tác hại của việc nhồi nhét.

Câu chuyện về việc ép con ăn không còn là xa lạ trong tâm lý các chị, các mẹ khi nuôi con. Chúng ta có thể thấy những đứa trẻ bị nhồi ăn sữa, ép đút cháo ở bất cứ nơi đâu, từ sân khu tập thể, ngoài nhà hàng, trong các bữa cơm gia đình hay thậm chí cả ở trong các lớp mầm non, tư thục. Nhiều chị em nghĩ rằng ép con ăn là…tốt cho trẻ. Tuy nhiên, có những sự thật bất ngờ không phải ai cũng biết

Kích thước kinh ngạc của dạ dày trẻ

Hiểu biết sai về kích thước dạ dày của bé dẫn đến tình trạng các bà mẹ nhồi nhét thức ăn làm dạ dày bé quá tải, hậu quả trước mắt là bé dễ ói ọc khi ăn và dần trở nên thù ghét thức ăn. Hậu quả lâu dài là việc thiếu dinh dưỡng, chậm phát triển cả thể chất và trí tuệ ở trẻ nhỏ.

ép con, ăn dặm, biếng ăn
Mô phỏng kích thước dạ dày trẻ sơ sinh (ảnh minh họa)

Mẹ có biết kích thước thật sự dạ dày của bé?

Trẻ nhỏ khi mới sinh ra kích thước dạ dày không to hơn một quả cherry, nó chưa giãn nở tốt và thậm chí chỉ chứa được 5-10ml sữa/lần vào ngày đầu tiên. Số sữa này tương đương đúng bằng lượng sữa non quý giá mới tiết ra của mẹ. Vì vậy, hãy cứ cho con ăn ít một, không cần bù thêm sữa công thức và cũng đừng lo trẻ đói. Ba ngàu sau sinh, kích thước dạ dày trẻ to bằng một quả bóng bàn, có thể chứa được 20-30ml/lần ăn và 10 ngày sau mới bằng một quả trứng gà, có thể chứa được 60-80ml/lần ăn.

Trẻ nhỏ từ 6-11 tháng tuổi có dung tích dạ dày nhỏ hơn 5 lần so với người trưởng thành. Nếu một người trưởng thành có thể ăn vào được một lượng thức ăn có thể tích 1300ml thì dạ dày em bé chỉ có thể chứa được một lượng thức ăn khoảng 200 -250ml (tương đương 1 chén cơm).

Điều thú vị nhất ở đây là dạ dày của bé nhỏ hơn dạ dày người lớn 5 lần nhưng vi chất dinh dưỡng cần bổ sung lại cao hơn người lớn 3-5 lần tính trên mỗi cân nặng của bé. Chính vì vậy, một em bé sơ sinh ngày đầu tiên sẽ ăn 8-12 lần trong vòng 24 giờ, có nghĩa là bé nên được cho ăn khoảng 1-3 giờ/cữ và một em bé đang độ tuổi ăn dặm nên ăn ít nhưng đủ chất và chia làm 2-3 bữa nhỏ trong ngày.

Ép con ăn có thể hại trẻ lồng ruột

Lồng ruột là từ chuyên nghành chỉ hiện tượng ruột non chui vào lòng ruột già. Trẻ nhỏ dưới 24 tháng tuổi, nhất là những bé bú mẹ và bụ bẫm thì thường có khả năng cao xảy ra lồng ruột. Dù có tới 90% trẻ bị lồng ruột không rõ nguyên nhân nhưng các chuyên gia cũng rút ra được kết luận rằng lồng ruột rất hay xảy ra ở trẻ bú mẹ, thường từ 4-9 tháng. Đặc biệt, càng những bé bụ bẫm, ham ăn, bị mẹ nhồi nhét ăn dẫn đến nhu động ruột phải hoạt động mạnh thì càng dễ bị lồng ruột.

Dậy thì sớm vì bị ép ăn

Trẻ bị ép ăn nhiều sẽ dẫn đến tình trạng thừa dinh dưỡng, làm tăng lượng hormon trong cơ thể khiến các trẻ em bị dậy thì sớm. Thậm chí làm hạn chế sự phát triển chiều cao của trẻ. Hơn nữa, do chưa trưởng thành về tâm lý, sự phát triển sớm của cơ thể sẽ khiến trẻ có những hiểu biết sai lầm. Nhiều bé gái đã hốt hoảng, sợ hãi, xấu hổ, lo lắng, dẫn đến buồn rầu và bỏ học khi cơ thể có sự thay đổi. Một số trẻ bị rơi vào trầm cảm vì không biết chia sẻ cùng ai. Các bé trai có khuynh hướng hung hăng, dễ nổi cáu và hay gây gổ với những người xung quanh. Trẻ có thể bị mất ngủ, đứng ngồi không yên hoặc có những hành vi bất thường, nhiều trẻ còn bị rối loạn suy nghĩ và có cái nhìn lệch lạc về tình dục…

ép con, ăn dặm, biếng ăn
Ép con ăn hôm nay có thể để lại hậu quả xấu sau này (ảnh minh họa)

Cha mẹ ép con ăn là vì mình chứ không phải vì con

Nhiều người sẽ phản đối kịch liệt khi nghe thấy câu nói này. Tuy nhiên cần khẳng định, đây là sự thật. Nếu quan tâm tới con trẻ và thực sự muốn tốt cho con thì không ai ép trẻ ăn.

Nếu chúng ta hỏi các bà các mẹ rằng họ ép con ăn để làm gì, họ sẽ nói rằng vì muốn con khỏe mạnh. Vậy nhưng có một lý do ít ai nói ra hoặc thậm chí ít ai nghĩ mình đang như thế: đó là do chúng ta sợ con mình không có được chiều cao, cân nặng bàng vai phải lứa với các em bé xung quanh. Chúng ta nhìn những đứa trẻ to hơn, cao hơn, nặng cân hơn con mình và cho rằng đó là khỏe còn con mình …chưa khỏe. Chúng ta lo sợ cả sự đánh giá của người ngoài đối với vóc dáng của con cái mình. Chính vì vậy, chúng ta ép con ăn để an tâm mình trước khi nghĩ đến trẻ.

Mặt khác, những bố mẹ ép con ăn có xu hướng quyết định giờ ăn của con thuận tiện cho bản thân họ (ví dụ, khi bản thân họ đang đói) mà thường không bận tâm kiểm tra xem liệu con có đang thực sự đói không. Chính vì vậy, nếu tôn trọng trẻ, không ai lại ép con ăn.

(Theo Khám phá)

giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Viêm phổi ở trẻ nhỏ

Nguyên nhân gây bệnh viêm phổi ở trẻ em

Vi khuẩn

Vi khuẩn hay gặp nhất trong viêm phổi mắc phải ở cộng đồng ở trẻ em là S. pneumonia chiếm tới khoảng 30-50% trường hợp. H. influenzae type b là nguyên nhân vi khuẩn đứng hàng thứ 2 chiếm khoảng 10-30% và tiếp theo là S.aureus và K.pneumonia.

Các vi khuẩn khác cũng là nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em trong đó phải kể đến M. pneumonia thường gây viêm phổi không điển hình ở trẻ trên 5 tuổi. Liên cầu B và Chlamydia spp có thể gây viêm phổi ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra các vi khuẩn như K. pneumonia và một số vi khuẩn Gr(-) khác cũng có thể gây viêm phổi ở trẻ nhỏ và đặc biệt là trẻ sơ sinh. Trong những năm gần đây do có dịch HIV nên có thể gặp viêm phổi do Pneumocystis Jiroveci ở trẻ nhiễm HIV.

Virus

Các nghiên cứu về viêm phổi do virus cho thấy có khoảng 15-40% là do virus hợp bào đường hô hấp (RSV) tiếp theo là virus cúm A, B, á cúm, metapneumovirus ở người và adenovirus. Nhiễm virus đường hô hấp ban đầu cũng có thể làm tăng nguy cơ viêm phổi do vi khuẩn thứ phát hoặc đôi khi cũng gặp những trường hợp viêm phổi phối hợp giữa virus và vi khuẩn trên trẻ nhỏ ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ này vào khoảng 20-30% trong các đợt viêm phổi.

Hiếm gặp nhưng các virus như varicella và sởi đôi khi cũng gây viêm phổi ở trẻ em

Ký sinh trùng, nấm

Mặc dù cũng hiếm gặp nhưng Histoplasmosis toxoplasmosis và candida cũng có thể gây viêm phổi ở trẻ em trong một số hoàn cảnh đặc biệt.

Biểu hiện lâm sàng bệnh viêm phổi ở trẻ

Thở nhanh là dấu hiệu có giá trị chẩn đoán viêm phổi cao nhất. Đối với trẻ dưới 5 tuổi, tiêu chuẩn thở nhanh theo phân loại của WHO là:

Nhịp thở ≥ 60 lần/phút đối với trẻ < 2 tháng tuổi và

Nhịp thở ≥ 50lần/phút đối với trẻ 2 tháng – 12 tháng tuổi và

Nhịp thở ≥ 40lần/phút đối với trẻ 1-5 tuổi .

Đếm nhịp thở khi trẻ nằm yên hoặc khi ngủ và phải đếm trong 1 phút.

Ran ẩm nhỏ hạt cũng là dấu hiệu thường được dùng trong chẩn đoán viêm phổi.

Rút lõm lồng ngực là dấu hiệu của viêm phổi nặng. Để phát hiện dấu hiệu này cần nhìn vào phần dưới lồng ngực (1/3 dưới) lõm vào khi trẻ hít vào. Nếu chỉ phần mềm giữa xương sườn hoặc vùng trên xương đòn rút lõm thì không phải là rút lõm lồng ngực. Ở trẻ dưới 2 tháng tuổi nếu chỉ rút lõm lồng ngực nhẹ thì chưa có giá trị phân loại vì lồng ngực của trẻ nhỏ còn mềm, nên khi thở bình thường cũng có thể hơi bị rút lõm. Vì vậy, ở những trẻ này rút lõm lồng ngực mạnh (lõm sâu và dễ nhìn thấy) mới có giá trị để chẩn đoán.

Sốt cao cũng là một triệu chứng thường gặp.

Khò khè có thể có khoảng 30% ở trẻ lớn bị viêm phổi do mycoplasma.Tuy nhiên, các trẻ này cũng dễ nhầm với hen nếu không chụp Xquang phổi. Các triệu chứng đau ngực hoặc đau bụng (thường liên quan đến tổn thương màng phổi phía cơ hoành) tiết dịch màng phổi và tiếng thổi ống rất ít gặp ở trẻ em.

Các triệu chứng phập phồng cánh mũi, thở rên, bú kém, kích thích, và các bất thường khi khám phổi thay đổi phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân và độ nặng của bệnh.

Mặc dù có một số triệu chứng như bỏ bú, thở rên, tím trung tâm có thể là những gợi ý của tình trạng thiếu oxygen nhưng vì chúng không có độ nhạy và đặc hiệu cao, do vậy khi có điều kiện cần phải đo độ bão hoà oxygen qua da cho bệnh nhi có biểu hiện suy hô hấp hoặc có vẻ ốm nặng.

Chẩn đoán bệnh viêm phổi trẻ em

Dựa vào các nghiên cứu lâm sàng và Xquang phổi, Tổ chức Y Tế thế giới đã phân loại viêm phổi thành các thể rất nặng, nặng và không nặng dựa vào các triệu chứng lâm sàng để qua đó các thầy thuốc lâm sàng quyết định các biện pháp điều trị hỗ trợ như oxygen, bù dịch và kháng sinh đặc hiệu.

Viêm phổi rất nặng

Trẻ có ho hoặc khó thở cộng với ít nhất một trong các triệu chứng chính sau:

- Tím tái; co giật, lơ mơ hoặc hôn mê.

- Không uống được hoặc bỏ bú hoặc nôn ra tất cả mọi thứ.

-Suy hô hấp nặng (ví dụ như: đầu gật gù theo nhịp thở và co kéo cơ hô hấp phụ).

Ngoài ra có thể có thêm một số triệu chứng khác sau:

- Thở nhanh, phập phồng cánh mũi, thở rên, co rút lồng ngực.

- Nghe phổi có thể thấy:

Giảm rì rào phế nang, tiếng thổi ống, ran ẩm nhỏ hạt.

Tiếng cọ màng phổi v.v…

- Nếu có điều kiện thì nên chụp Xquang.

Viêm phổi nặng

Trẻ ho hoặc khó thở và có ít nhất một trong các triệu chứng chính sau:

- Co rút lồng ngực, phập phồng cánh mũi.

- Thở rên (ở trẻ dưới 2 tháng) và không có các dấu hiệu chính của viêm phổi rất nặng.

Ngoài ra, cũng có thể có thêm một số các triệu chứng khác đã mô tả ở phần viêm phổi rất nặng.

Chụp Xquang thường ít khi cho những thông tin để làm thay đổi quyết định điều trị, do đó chỉ các trường hợp đặc biệt mới cần chụp Xquang mà thôi.

Viêm phổi không nặng

Trẻ có ho hoặc khó thở và khó thở nhanh:

- Trẻ dưới 2 tháng: Nhịp thở ~ 60 lần/phút.

- Trẻ từ 2-12 tháng: Nhịp thở ~ 50 lần/phút.

- Trẻ từ 12 tháng đến 5 tuổi: Nhịp thở ~ 40 lần/phút.

Và không có một trong các triệu chứng chính của viêm phổi nặng hoặc rất nặng.

Ngoài ra khi nghe phổi có thể thấy ran ẩm nhỏ hạt.

Không viêm phổi (ho cảm)

Trẻ có các triệu chứng sau:

- Ho, chảy mũi, thở bằng miệng.

- Sốt.

Và không có các dấu hiệu sau:

- Thở nhanh, co rút lồng ngực, thở rít khi nằm yên.

- Các triệu chứng nguy hiểm chung khác.

Một số trẻ có thể có khò khè. Các trẻ này thường do virus. Không cần dùng kháng sinh cho trẻ, điều trị triệu chứng bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần.

Hướng dẫn điều trị bệnh viêm phổi trẻ em

Viêm phổi ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 2 tháng

Các trẻ này cần phải điều trị tại bệnh viện do bệnh có thể diễn biến nặng lên rất nhanh, khó tiên lượng và cần phải theo dõi chặt chẽ. Nguyên nhân chủ yếu do các loại vi khuẩn Gram (-), tụ cầu, liên cầu nhóm B… còn phế cầu và H. influenzae thì ít gặp hơn.

Hãy dùng: Benzyl penicillin hoặc ampicillin kết hợp với gentamicin. Một đợt dùng từ 5-10 ngày. Trong các trường hợp viêm phổi rất nặng thì dùng cefotaxime.

Viêm phổi ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi

Nguyên nhân chủ yếu do các loại vi khuẩn như phế cầu, H. influenzae và M. catarrhalis còn các vi khuẩn khác như tụ cầu hoặc vi khuẩn Gram (-) thì ít gặp hơn.

Viêm phổi: (không nặng, chỉ có ho và thở nhanh). Điều trị tại nhà bằng amoxycillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ từ 5-7 ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì điều trị như viêm phổi nặng.

Viêm phổi nặng (có khó thở, co rút lồng ngực). Điều trị tại bệnh viện. Hãy dùng: Benzyl penicillin hoặc ampicillin. Theo dõi sau 2-3 ngày. Nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ từ 5-10 ngày. Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì điều trị như viêm phổi rất nặng.

Viêm phổi rất nặng (có khó thở, co rút lồng ngực, tím tái, li bì…). Điều trị tại bệnh viện. Hãy dùng:

Benzyl penicillin hoặc ampicillin phối hợp với gentamicin hoặc

Không đỡ dùng cefuroxime.

Nếu nghi ngờ viêm phổi do tụ cầu. Hãy dùng:

Oxacillin kết hợp với gentamicin hoặc nếu không có oxacillin thì:

Thay bằng cephalothin gentamicin.

Gần đây một số nơi có tỷ lệ tụ cầu kháng methicillin cao thì có thể chuyển sang dùng vancomycin.

Viêm phổi ở trẻ trên 5 tuổi

Nguyên nhân thường do phế cầu hoặc H. influenzae… Hãy dùng từ 7-10 ngày:

Benzyl Penicillin 50mg/kg/lần (TM). Ngày dùng 4-6 lần hoặc

Cephalothin 50-100mg/kg/ngày(TM hoặc TB) chia 3-4 lần hoặc

Cefuroxime 50-75 mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 3 lần hoặc

Ceftriaxone 50-100mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 1-2 lần.

Nếu ở nơi nào tỷ lệ H. influenzae sinh beta-lactamase cao thì có thể thay bằng amoxy/clavulanic (Augmentin) hoặc ampicillin/Sulbactam (Unacin) TB hoặc TM.

Viêm phổi không điển hình

Nguyên nhân thường do Mycoplasma, Chlamydia, Legionella hoặc Ricketsia, hãy dùng:

Erythromycine 40-50mg/kg/ngày, uống chia 4 lần trong 10 ngày hoặc

Azithromycine 10mg/kg trong ngày đầu sau đó 5mg/kg trong 4 ngày tiếp theo. Trong một số trường hợp đặc biệt có thể dùng tới 7-10 ngày.

Phòng bệnh viêm phổi trẻ em

Các biện pháp phòng bệnh chung nhằm làm giảm nguy cơ mắc bệnh đã đem lại những hiệu quả giảm tỷ lệ mắc viêm phổi rõ rệt đó là:

Cải thiện điều kiện nhà ở.

Tăng cường dinh dưỡng.

Giảm mật độ người trong gia đình chật chội, đông đúc.

Giảm các loại khói.

Giảm tỷ lệ mang các vi khuẩn ở tỵ hầu ở trẻ dưới 5 tuổi.

Sử dụng các loại vaccin là biện pháp phòng bệnh đặc hiệu các vaccin được dùng hiện nay là:

H.influenzae type b (Hib).

Ho gà (Bordatella pertusis).

Phế cầu (S.pneumonia).

Cúm.

Cẩm nang truyền thông các bệnh thường gặp – BV Bạch Mai

 
giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Giường lưới khổng lồ cho cả nhà


Với thiết kế này, các bé có thể vừa chơi vừa học trên chiếc lưới chắc chắn được mắc trong phòng đọc.

play10-7259-1384881879.jpg

Thay vì để lũ trẻ vừa chơi vừa bày bừa khắp sàn nhà, các nhà thiết kế Tây Ban Nha đã cho ra đời một chiếc “tổ chim” dành cho các bé ham đọc sách với thiết kế dựa trên chiếc lưới siêu vững chắc.

play11-1400-1384881879.jpg

Ở các nước phương Tây, phòng đọc sách thường có những chiếc giá sách cao ngất tới trần nhà. Để lấy được sách đọc, các bé thường phải nhờ đến bố mẹ. Rủi ro do việc sách rơi từ trên cao xuống cũng khiến nhiều ba mẹ e ngại khi cho con vào phòng đọc sách. Tuy nhiên, với thiết kế siêu đặc biệt này, ba mẹ có thể yên tâm cho con ở cả ngày trên “tổ” của mình, vừa học vừa chơi rất hiệu quả.

PlayofficeReadingNet1-5612-1384881879.jp

Chiếc lưới được mắc cách mặt đất chừng vài mét. Do tính đàn hồi mà các bé có thể thoái mái nằm ngồi trên đó êm ái như trên giường đệm trong phòng ngủ. Playoffice studio, cha đẻ của sản phẩm này, cho biết, chiếc “tổ” độc đáo này có thể khuyến khích các bé đọc sách nhiều hơn với nguồn cảm hứng mới.

PlayofficeReadingNet2-9388-1384881879.jp
PlayofficeReadingNet3-8667-1384881880.jp

Không còn giới hạn trong không gian chật hẹp, nhàm chán của phòng đọc, các bé có thể thoải mái nằm, ngồi, leo trèo, thậm chí là nhào lộn đầy hứng khởi. Khi đọc xong sách, các bé có thể tự tay cất sách vào đúng vị trí mà không cần nhờ đến sự trợ giúp của bố mẹ.

PlayofficeReadingNet4-7169-1384881880.jp
PlayofficeReadingNet5-5932-1384881880.jp
PlayofficeReadingNet6-4926-1384881880.jp
PlayofficeReadingNet7-2224-1384881880.jp
play9-5633-1384881880.jpg

giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Thứ tự mọc răng sữa của trẻ



Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 1
2 chiếc răng cửa dưới thường xuất hiện đầu tiên khi bé được 6-10 tháng tuổi.Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 2
Xuất hiện tiếp theo là 2 chiếc răng cửa trên thường mọc vào tháng thứ 8-12. Khi 2 chiếc răng thỏ này mọc, trông bé nhà bạn rất dễ thương.Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 3
2 chiếc răng cửa phía trên tiếp theo mọc khi bé được 9- 13 tháng tuổi. Vậy là hàm trên của bé đã có 4 chiếc răng cửa.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 4
Thứ tự tiếp theo là 2 chiếc răng cửa dưới. Hai răng này mọc khi bé được 10-16 tháng tuổi. Vào thời điểm này, bé nhà bạn đã có thể khoe khá nhiều răng khi cười.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 5
Hai chiếc răng hàm trên đầu tiên xuất hiện khi bé 13-19 tháng tuổi. Hai chiếc răng này mọc ở vị trí lùi về phía trong, cách một vị trí so với 4 chiếc răng cửa trên đầu tiên.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 6
Cũng như 2 răng hàm trên, 2 răng hàm dưới mọc cách một vị trí so với 4 chiếc răng cửa dưới đầu tiên. Chúng xuất hiện khi bé ở vào khoảng 14-18 tháng tuổi.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 7
Hai chiếc răng nanh hàm trên được mọc vào khoảng 16-22 tháng tuổi sẽ lấp đầy vị trí bị bỏ trống. Có một thực tế thú vị là ngoài cái tên răng nanh, ở một số nơi, họ gọi hai chiếc răng này là răng chó.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 8
Hai răng nanh hàm dưới xuất hiện khi bé ở khoảng 17-23 tháng tuổi. Bây giờ, bé nhà bạn đã có một nụ cười toàn răng. Nó thực sự rất đẹp vì răng sữa bao giờ cũng trắng hơn răng vĩnh viễn.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 9
Hai răng hàm phía dưới tiếp theo được mọc khi bé được khoảng 23-31 tháng tuổi. Ở giai đoạn này, nhiều bé thường không cảm thấy khó chịu khi mọc răng vì bé đang bận rộn khám phá nhiều thứ xung quanh.

Thứ tự mọc răng sữa của bé mẹ cần biết 10
Hai chiếc răng hàm trên cuối cùng sẽ mọc khi nhóc con nhà bạn ở khoảng 25-33 tháng tuổi. Vậy là cho đến khi 3 tuổi, bé sẽ có một nụ cười vô cùng rực rỡ với đầy đủ 20 chiếc răng sữa.

giuong-luoi-cho-beLợi ích khi ho bé nằm giường ươiiskhach-hang-noi-ve-vuontron8

Vệ sinh mũi cho trẻ sơ sinh, làm sao đúng?

1/ Vệ sinh mũi cho bé bằng gì?

Sổ mũi là nguyên nhân khiến bé ngạt mũi, ho, nôn trớ. Nếu chăm sóc không tốt mũi, bé có thể bị biến chứng như viêm amidal, viêm tai giữa, viêm phổi. Vì vậy, vệ sinh mũi cho bé rất quan trọng. Nước muối sinh lý là dung dịch để vệ sinh mũi, có tác dụng làm ẩm niêm mạc mũi trong trường hợp không khí khô và ô nhiễm, làm long đờm, loãng đờm khi mũi bị viêm. Sử dụng nước muối để vệ sinh mũi rất an toàn và không có tác dụng phụ.

2/ Vệ sinh mũi cho bé khi nào?

Nên vệ sinh mũi khi bé có các biểu hiện hoặc mắc các bệnh về viêm đường hô hấp như: chảy nước mũi, ngạt mũi, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, ho, viêm tai giữa…, khi bé đi ngoài đường về, nhất là đi bằng xe gắn máy.

Nên vệ sinh mũi cho bé trước khi cho ăn 30 phút để tránh nôn trớ. Nếu bé bị nôn trớ thì sau đó nên vệ sinh ngay, vì thức ăn kèm dịch vị dạ dày sẽ bám trên mũi, là nguyên nhân gây viêm dai dẳng ở các bé.

Continue reading

Trị bỏng nước sôi cho bé thế nào?

Bỏng do nhiều nguyên nhân, như: nước sôi, lửa, điện, hóa chất, nhiều nhất vẫn là bỏng nước sôi ở trẻ nhỏ, nhất là vào dịp Tết.

Bỏng được chia ra làm 4 độ.

  • Bỏng độ I: bỏng nông, chỉ ở phần da, dấu hiệu nhận biết là da đỏ, nóng rát, chỉ vài phút đến vài chục phút da bị phồng lên và mọng nước. Loại bỏng này thường do nước sôi.
  • Bỏng độ II: Tức là vết bỏng ăn sâu vào đến tổ chức dưới da.
  • Bỏng độ III: Vết bỏng sâu đến phần gân, cơ.
  • Bỏng độ IV: Vết bỏng vào đến phần xương (thường do lửa, điện).

Nhưng để đánh giá tiên lượng nặng hay nhẹ người ta lại căn cứ vào diện tích bị bỏng: diện tích càng lớn thì tiên lượng càng nặng.

Để trị bỏng bằng nước sôi (độ I), trong dân gian có một kinh nghiệm là dùng lòng trắng trứng (gà hoặc vịt). Continue reading